Show Mobile Navigation
Mới cập nhật

Phẫu thuật điều trị béo phì có những loại nào?


Phẫu thuật điều trị béo phì có thể chia ra làm 4 loại:

- Một là phương pháp phẫu thuật nhằm thu nhỏ dạ dày, ức chế ăn uống là chính, tức là cắt bớt dạ dày. Gồm phẫu thuật tạo hình dạ dày, phẫu thuật  thắt dạ dày, phẫu thuật ghép nối dạ dày, đặt bóng trong dạ dày.
Cơ quan đăng ký phẫu thuật Bariatric quốc tế ước tính tỉ lệ tử vong trong vòng 4 tuần sau phẫu thuật theo phương pháp này là 1/1000 và trong vòng 3 tháng là 3/1000 tổng số bệnh nhân.
Giảm cân bằng cách cắt bớt dạ dày không được sử dụng cho người béo phì ở tuổi vị thành niên.

- Hai là giảm diện tích tiêu hóa và hấp thu của ruột non như nịt ống tiêu hóa từ đó giảm hấp thu nhiệt lượng

- Ba là phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ thần kinh phế vị bụng. Nhưng hiệu quả giảm béo và hình thức phẫu thuật của phương pháp này cần phải nghiên cứu sâu thêm.

- Bốn là các phương pháp phẫu thuật khác như phương pháp hút mỡ (cắt bỏ mỡ), phương pháp phẫu thuật cố định hàm. Phẫu thuật hút mỡ đối với một số người béo phì không nặng lắm thì có thể đạt mục đích thẩm mỹ nhất định, nhưng đối với người béo phì nặng thì vấn đề hút bỏ 40 - 50 kg mỡ thì quả thật khó đạt mục tiêu, hơn nữa phải cắt nhiều diện tích da cũng gây tổn thương rất lớn. Mục đích của phương pháp phẫu thuật cố định hàm là hạn chế ăn các thực phẩm rắn. Phẫu thuật cố định hàm đại lại đương nhiên cũng cố định tương ứng hai hàm răng, từ đó không ăn được thức ăn cứng.

Vì sao coi tivi thường xuyên dễ dẫn đến béo phì?


Vì sao xem tivi lại dễ gây ra chứng béo phì? Thông thường có mấy nhân tố sau:

- Trong đa số trường hợp, chứng béo phì là do ăn uống quá độ vận động ít gây ra. Những thức ăn mà chúng ta ăn vào được cơ quan tiêu hóa trong cơ thể chuyển hóa thành các chất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể, và tồn tại trong cơ thể dưới dạng năng lượng. Ví dụ mỗi giờ đạp xe có thể tiêu hao 250 - 350Jun năng lượng, còn ngồi lặng xem tivi thì mỗi giờ chỉ tiêu hao khoảng 80Jun. Nếu năng lượng mà cơ thể hấp thu lớn hơn năng lượng tiêu hao, thì năng lượng dư thừa sẽ dẫn đến cơ thể tích tụ mỡ. Do đó, nếu cứ xem tivi "thấp Jun" như thế này trong một thời gian dài thì đương nhiên sẽ tăng cân phát phì.

-  Theo một cuộc điều tra ở Mỹ đã chỉ ra rằng, trong các chương trình truyền hình thì chương trình quảng cáo thực phẩm là nhiều nhất, những chương trình quảng cáo này có thể kích thích sự thèm ăn ở mọi người, cộng với ăn vặt sau bữa cơm, dẫn đến rất nhiều người lớn và trẻ em ở Mỹ vừa xem phim vừa ăn, đặc biệt là ăn những "thực phẩm tivi" giàu năng lượng kia như kẹo, hạt dưa, điểm tâm... rõ ràng là lại gia tăng "khối lượng ăn" của mội người.


- Theo điều tra, thời gian xem tivi trong một năm của trẻ em nước Mỹ dài hơn so với thời gian chúng học ở trường. Do người ta tiêu tốn rất nhiều thời gian trước màn hình tivi, thành thử về khách quan đã giảm các hoạt động bên ngoài và việc luyện tập thể thao, năng lượng nạp vào nhiều, tiêu hao ít, nếu không béo thì mới là lạ.

Đương nhiên, việc phổ biến phòng tránh chứng "béo phì tivi" còn phải sử dụng các biện pháp hữu hiệu khác nữa:

- Một là giảm thời gian xem tivi, tham gia các hoạt động văn hóa thể thao khác một cách hợp lý, như đi bộ, đạp xe, đnáh quyền, bơi lội... giải phóng mình khỏi màn hình tivi.

- Hai là xem tivi thì cố gắng không ăn hoặc ít ăn vặt, nhất là không được ăn các thực phẩm giàu năng lượng như kẹo, hạt dưa...

- Ba là thời gian tạm nghĩ của chương trình tivi thì nên đứng dậy hoạt động chân tay, làm vài động tác vận động nhẹ như đánh quyền, hoạt động thắt lưng và chân... như thế có thể thúc đẩy tuần hoàn máu, gia tăng sự tiêu hao năng lượng.

- Bốn là lúc bình thường cần chú ý ăn ít, vận động nhiều, đây là phương pháp tốt nhất để phòng tránh bệnh béo phì.

Nguyên tắc phòng tránh béo phì cho mọi người


Bệnh béo phì đang là một bệnh phổ biến, càng ngày càng có tỷ lệ người mắc bệnh cao hơn trong cộng đồng các nước công nghiệp và các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam). Trong vài thập kỷ qua, từ một lớp trẻ em gia đình khá giả hoặc con một, được chiều chuộng đã hình thành một thế hệ mới các trẻ em bị béo phì. Nhiều chuyên gia về vấn đề sức khỏe cộng đồng đã nêu lên sự cần thiết và những nguyên tắc phòng tránh bệnh béo phì cho mọi người như sau:

Phong-tranh-beo-phi

- Cần có một lối sống năng động gắn với việc tập thể dục hàng ngày. Những trò chơi thể thao đỉnh cao chỉ thích hợp với một số vận động viên chuyên nghiệp. Còn đa số chúng ta chỉ cần tập đều đều, tập kiên trì để thành thói quen đối với những hoạt động thể dục bình thường như: đi bộ, đạp xe đạp, tập thể dục, bơi lội giảm béo...

- Ăn các thực phẩm có lợi cho phần cơ bắp hơn là việc tạo mỡ.

- Ăn đều 3 bữa/ ngày. Tránh ăn thêm, tránh ăn quà vặt

- Ăn nhiều các thực phẩm có xơ: rau nhiều chất bột có trong các loại củ, hạt (khoai tây, gạo, mì...) hạn chế ăn chất béo (dầu ăn, bơ) và các thực phẩm có chất béo (bánh có bơ).

- Khi ăn, chú ý tới việc ăn: nơi yên tĩnh, nhai kỹ

- Hạn chế coi tivi. Vì:

* Mất thời gian dành cho hoạt động thể dục.

* Dễ chú ý tới những quảng cáo về món ăn ( phần lớn có chất béo, vì dễ thu hút lớp trẻ).

* Vừa ăn vừa coi tivi sẽ không nhai kỹ, hạn chế sự tiết ra các dịch vị tiêu hóa.

* Dễ ăn vặt do thói quen vừa coi tivi vừa nhấm nháp.

Hoặc bạn cũng có thể xem giải thích một cách khoa học vì sao coi tivi thường xuyên dễ dẫn đến béo phì?

- Nên đề ra cho mình việc phấn đấu để có một thân hình gọn, khỏe (với thanh niên), giữ được số cân trung bình
- Chú ý theo những lời khuyên của bác sĩ nếu ở trong diện: người có thể béo phì do di truyền.

Bệnh béo phì chữa trị rất tốn kém, vì không chỉ chữa trị tình trạng phì của cơ thể, mà còn phải chữa các bệnh do hiện tượng béo phì gây ra.

- 66% số người béo phì bị tiểu đường

- 52% bị sỏi thận

- 6% bị ung thư vú

- Đa số bị vô sinh (nữ)
Ở Pháp, 20 - 30% người bị chứng suy tim hoặc nghẽn động mạch vành là do béo phì. Những người này có chỉ số KTT trên 25kg/m2.
Chi phí của ngành y tế dành cho những người bị bệnh do béo phì gây ra là rất lơn từ 4 - 8% ở Mỹ và các nước công nghiệp khác.

Thuốc giảm béo gồm những loại nào?


Ngày nay, có rất nhiều loại thuốc điều trị giảm béo. Nhưng bất kể thuốc tây hay thuốc y học cổ truyền đều phải thực hiện giảm béo qua các con đường sau đây: một là sự thèm ăn, không muốn ăn, đạt mục đích giảm hấp thu nhiệt lượng. Hai là kích thích sự chuyển hóa, tăng lượng tiêu hao ôxy và ôxy hóa đường, mỡ của cơ thể, giảm lượng mỡ tích tụ. Ba là kích thích đường ruột hấp thu ít dinh dưỡng bài tiết nhiều hơn, nhanh hơn.
- Thuốc điều trị giảm béo hiện nay chỉ khuyến cáo dùng cho người béo phì ở độ tuổi trưởng thành, không dùng cho trẻ em.
Các thuốc giảm béo hiện bán trên thị trường ngoài tác dụng giảm béo còn kèm theo nhiều tác dụng phụ.

Thuốc giảm béo thường dùng có:

- Thuốc ức chế sự thèm ăn, hút nước trương nở, làm đầy ống tiêu hóa, gây cảm giác chán ăn như: Coréine, Décorpa, Pseudpphage, Benzedrinum, Fenfluramine. Các thuốc này chủ yếu ức chế sự thèm ăn thông qua tác động đến trung ương thèm ăn của thũy não dưới cũng như sự hưng phấn của toàn thân, giúp người bệnh dễ thực hiện phương pháp giảm béo bằng chế độ ăn hợp lý. Tác dụng phụ của thuốc là làm đầy hơi, chướng bụng, gây khó chịu.

- Thuốc giảm hấp thu chất béo như: Xennical, Orlistat. Thuốc ít bị hấp thu vào máu, được xem là thuốc giảm béo an toàn nhất hiện nay. Khoảng 97% lượng thuốc uống vào được thải ra qua phân, làm giảm 30% lượng hấp thu năng lượng chất béo mỗi ngày.

Thuốc không tác động lên thần kinh trung ương mà chỉ tác dụng tại chỗ nên người béo phì kèm theo suy thận. suy gan không cần giảm liều dùng. Thuốc không tương tác với thuốc khác. Thuốc Xennical có thể dùng liên tục trên hai năm, không ảnh hưởng đến lao động như lái tàu, lái xe và các công việc khác.

Tuy nhiên, thuốc có thể gây đầy bụng, rối loạn tiêu hóa, nên cần uống thuốc bổ sung các vitamin A, E, K, D.

- Thuốc tác dụng lên hệ thần kinh trung ương như: Sibutramine, ephedrine, pseudoepedrin, amphetamine, phenylpropanolamin... Thuốc tác dụng lên thần kinh trung ương, đem lại cảm giác ăn không ngon, uống không trôi, đạt hiệu quả giảm ăn giảm béo.

 Tác dụng phụ của thuốc là tăng huyết áp, tăng nhịp tim, gây mất ngủ. Thuốc chuyển hóa trong gan nên phải thận trọng khi dùng với các thuốc an thần, kháng sinh, thuốc điều trị trầm cảm. Người bệnh dùng thuốc này thường có cảm giác chán nản, trầm cảm. Thuốc dễ gây nghiện hoặc nhờn thuốc.

- Thuốc giảm tích mỡ: Béo phì liên quan tới tổng hợp mô mỡ mạnh, gây tích trữ mỡ lớn, vì thế người ta đã nghiên cứu ra loại thuốc cản trở tích mỡ. Các loại thuốc giảm béo loại này có các nhãn hiệu như cardiobil và carnitine. Thuốc có chứa chất L - carnitine. Chất carnitine có trong tất cả các mô (tim gan, thận, xương, cơ) của cơ thể và chỉ có ít trong máu, sữa. Nó tham gia chuyển hóa lipit dưới dạng axit carnitine. Carnitine là chất cơ bản của sự phân giải chất béo. Nếu cơ thể thiếu cartinine, không phân giải được chất béo để giải phóng năng lượng thì chất béo sẽ tích tụ lại. Đó là nguyên nhân của sự béo phì.

Thuốc giảm béo có carnitine làm tăng các phản ứng Bêta - ô xy hóa để tăng phân giải chất béo của cơ thể tạo thêm năng lượng cho các tế bào, do đó giảm tích tụ mỡ, có tác dụng giảm béo. Ngoài ra còn làm giảm sự chảy nhão của cơ bắp do tăng năng lượng trong các tế bào.

Thuốc giảm béo cardiobil, calotine là thuốc thế hệ mới, đã lưu hành ở nhiều nước và đang được chú ý nhất.

- Thuốc lợi tiểu như: Hydrochlorothiazide, oretic, esidrex... chỉ dùng cho người suy tim, huyết áp cao. Tác dụng giảm cân của thuốc này gây mất nước. Vì thế, sau khi ngưng dùng thuốc, cân năng có thể trở lại như cũ.

Tác dụng phụ của thuốc này là gây đái tháo đường hoặc khiến các bệnh có sẵn thêm nặng. Nếu điều trị phù do xơ cứng gan có thể gây áp xe gan vì natri, kali trong máu thấp. Điều trị lâu dài gây rối loạn điện giải, mất nước cấp ở người sử dụng.

- Thuốc nhuận tràng: Thuốc nhuận tràng hay thuốc chống táo bón, thuốc xổ như: thuốc nhuận tràng muối magnesiiumcitrate, natriphosphat, magnesium sulfate; thuốc nhuận tràng hình thành khối methylcellncose, polycarbophil; thuốc nhuận tràng kích thích cascara sagrada, senna, castor.

Thuốc dùng khi táo bón hay xổ ruột. Ngoài tác dụng nhuận tràng cũng có tác dụng giảm béo như thuốc lợi tiểu nhưng có nhiều tác dụng phụ.

- Thuốc găng chuyển hóa như: hormone tuyến giáp trạng, progesterone, chỉ dùng cho người béo phì suy tuyến giáp nhằm thúc đẩy tăng cường chuyển hóa, từ đó làm cho mô mỡ tích tụ trong cơ thể sẽ dần dần tiêu hết. Tác dụng phụ của thuốc đối với người béo phì không suy tuyến giáp thì thuốc sẽ ức chế chức năng tuyến giáp, tăng nhịp tim, tiêu cơ bắp...

- Thuốc loại biguanide: khi điều trị bệnh đái tháo đường, loại thuốc hạ đường biguanide thường khiến người bệnh ăn không ngon. Nhưng thuốc lại có tác dụng hạ thấp lượng tích trữ mỡ. Nguyên lý giảm béo của thuốc là ức chế sự thèm ăn, làm chậm hoặc giảm sự hấp thu đường của hệ tiêu hóa, tăng lượng mỡ và cá chất khác bài tiết qua phân, giảm chứng insulin trong máu cao khi đói và sau bữa ăn.

Thuốc điều trị giảm béo chỉ được khuyến cáo sử dụng ở người trưởng thành béo phì và khi bệnh kèm theo nặng hoặc kéo dài.
Thuốc giảm béo đều có tác dụng phụ ở mức độ khác nhau, thậm chí nguy hiểm, nhất là dễ dẫn đến ưng thư. Nói chung có thể tránh được tác dụng phụ của thuốc giảm béo nếu người dùng tuân theo đúng chỉ định của bác sĩ và mua thuốc có nguồn gốc rõ ràng.

Tuy nhiên nếu muốn giảm béo có kết quả thì không nên chỉ trông cậy vào thuốc giảm béo, cho dù đó là thuốc đời mới. Thuốc giảm béo đều mang tính tạm thời, sau khi ngừng thuốc sẽ béo trở lại. Hơn nữa dù ít dù nhiều, thuốc giảm béo đều có tác dụng phụ nhất định.

Cho nên, thuốc giảm béo chỉ nên coi là thứ hỗ trợ thêm các phương pháp giảm béo hiệu quả khác. Còn phương pháp giảm béo chủ yếu là điều chỉnh chế độ ăn uống, hạn chế ăn các chất chứa nhiều mỡ, giảm chất đường bột, nên ăn nhiều rau quả tươi kết hợp với tích cực vận động luyện tập thể dục thể thao phù hợp vừa có tác dụng giảm béo mà cơ thể lại khỏe mạnh, mới củng cố được hiệu quả giảm béo lâu dài.

Giảm béo bằng cách bơi lội


Do ảnh hưởng của nước đối với cơ thể khác với không khí, nên bơi lội không chỉ làm cho khỏe người, mà còn là cách giảm béo rất hiệu quả và giản tiện đối với người béo phì. Người béo phì khi vận động trên đất liền, khớp chân chịu lực đập mạnh, nên dễ gây tổn thương. Bơi lội thì lại khác, trong nước cơ thể luôn ở trạng thái nổi, không chịu sự va đập trực tiếp của phản lực mặt đất nên không bị tổn thương.


Điều then chốt là mật độ và tính dẫn nhiệt của nước lớn hơn không khí, nhiệt độ nước nhỏ hơn thân nhiệt của cơ thể, đồng thời khi bơi lội, nhóm cơ lớn của toàn thân đều vận động. Do đó người béo phì bơi lội, nhiệt lượng cơ thể hao lớn hơn nhiều so với vận động trên đất liền, từ đó có thể loại bỏ chất béo tích trữ trong cơ thể nhanh hơn.

Theo nghiên cứu, trong 1 phút:

  • Bơi ngửa tiêu hao 12.5 kj nhiệt lượng
  • Bơi ếch tiêu hao 22.15 kj nhiệt lượng
  • Bơi tự do tiêu hao 54.34 kj nhiệt lượng. 
  • Nếu dùng toàn lực bơi 100m sẽ tiêu hao 271.7 kj nhiệt lượng.

Ngoài ra, tính dẫn nhiệt của nước lớn hơn không khí 28 lần, nhiệt độ nước bơi thấp hơn nhiều so với thân nhiệt, thường thấp hơn 10 độ C trở lên. Do đó, người béo chỉ cần ngâm mình trong nước cũng có thể tản ra khá nhiều nhiệt lượng.

Qua nghiên cứu, nhiệt lượng tản ra khi ngâm mình trong nước ở 12 độ C trong 4 phút tương đương với nhiệt lượng tản ra trong 1 giờ trên đất liền ở cùng nhiệt độ. Tuy nhiên lượng này chủ yếu từ sự tiêu hao đường và chất béo trong cơ thể. Nếu người kiên trì bơi lội trong 45 phút mỗi ngày, và không tăng khối lượng ăn uống, trọng lượng cơ thể sẽ giảm khoảng 350g. Nếu bơi trong 4 tháng trở lên, thì người vượt quá trọng lượng 15% - 20% về cơ bản có thể khôi phục được trọng lượng cơ thể bình thường, hơn nữa thể hình sẽ cân đối, cơ bắp rắn chắc lên.

Những món ăn sáng dành cho người béo


Nhiều bạn hỏi rằng: có phải béo thì cần nhịn ăn sáng?

Thật ra bữa sáng rất quan trọng, nó cung cấp năng lượng cho bạn làm việc. Nhưng nếu bữa tối bạn đã ăn nhiều đến mức sáng không thấy đói thì bạn đừng ăn. Khi chưa có cảm giác đói mà đã ăn thì lượng mỡ sẽ tăng lên trong ngày và làm cho bạn béo.

Có 2 điều bạn nên nhớ:

  • Không ăn khi chưa có cảm giác đói.
  • Hãy ăn chậm, nhai kỹ để thõa mãn cơn đói và ngừng ăn ngay sau khi hết cảm giác đói dù bạn có thể ăn được nữa.

Sau đây là những món bạn có thể ăn sáng:

1.  Bún riêu cua: Bạn có thể ăn một tô, không ăn váng cua, không ăn nước béo, ăn nhiều rau muống chẻ, xà lách, giá, rau thơm các loại.

2. Bánh dầy chả lụa hoặc chả quế: 1 cặp bánh dầy với 50g chả.

3. Bánh gió: 1 chiếc loại 200g.

4. Bánh canh thịt heo: 1 tô

5. Bánh ướt: 1 đĩa trong đó có 100g bánh, 50 ga chả lụa, 100g giá đậu

6. Cơm nếp: 1 đĩa nhỏ ăn với thít chà bông (ruốc) + dưa leo

7. Bánh mì kẹp thịt chà bông (ruốc thịt) + dưa leo: 1/2 ổ bánh 50g, 20g thịt chà bông, 1 trái dưa leo, nước tương, tiêu, ngò, ớt.

8. Cơm tấm bì: 1 dĩa nhỏ, không chan hành mỡ

9. Cháo ăn liền: loại 65g, bạn bỏ gói mỡ đi rồi cho thêm 10g thịt chà bông, nấu ăn nhanh, dễ ăn. Bạn có thể nấu 20g gạo + 10g đậu xanh cho vào phích (bình thủy) để sáng lấy ra ăn.

10. Bánh đúc chấm tương Bắc: 1 chén

11. Bắp nấu (ngô luộc): 2 trái

12. Khoai lang luộc: 300g.

Béo phì có phải do di truyền?


Qua các cuộc tiếp xúc, nhiều bác sĩ đã nhận xét những bệnh nhân của mình có hình dáng giống bố, mẹ hoặc nhiều người trong dòng họ. Nếu bé gái béo phì có dáng người giống mẹ hay bà ngoại, thì bé trai hay giống bố, ông hay chú, bác... Căn cứ vào số liệu thống kê, người thấy kết quả như sau: 40% trẻ em có khả năng bị béo phì nếu bố hoặc mẹ đã béo phì. Nếu cả hai đều béo phì thì khả năng lên tới 80%. Nếu bố mẹ đều bình thường (không bị béo phì) thì con số này chỉ khoảng 10%, 69% người béo phì đều có bố, mẹ hoặc một người nào đó trong dòng họ (cô, dì, chú, bác, ông, bà...) đã bị béo phì.


Tuy nhiên, hiện tượng béo phì không chỉ do tính di truyền mà còn do đứa trẻ được nuôi nấng như thế nào ngay từ những năm tháng đầu đời, cùng với tập quán và truyền thống của gia đình về việc ăn uống.

Vấn đề di truyền và môi trường sống

1. Năm 1990, A. Stunkart một nhà nghiên cứu về tính di truyền người Mỹ, đã theo dõi sự phát triển cơ thể của 677 cặp song sinh tại Thụy Điển. Một số cặp được chung sống và lớn lên trong cùng một gia đình. Lại có một số trẻ đã sống xa nhau tại các gia đình khác biệt, ngay từ lúc còn nhỏ với những đứa trẻ khác, cùng lứa tuổi, nhưng không phải là anh chị em ruột, Stunkart đã nhận thấy như sau:

- Những trẻ sinh đôi phát triển tương đối giống nhau về trọng lượng, dù chúng cùng được nuôi dưỡng tại một nơi hoặc sống xa nhau.

- Sự phát triển về trọng lượng cơ thể của trẻ em chịu ảnh hưởng của bố mẹ ruột của chúng (giống bố mẹ ruột, không giống bố mẹ nuôi)

Một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học khác như E. Ravussin và Claude Bouchard cho thấy rằng sự tiêu thụ năng lượng và tiếp thu năng lượng ở một số bộ tộc người da đỏ Pimas bao giờ cũng để lại một số dư khiến cho đa số họ đều to béo. Lại có một số dòng họ ở Canada ưa hoạt động tay chân hơn những dòng họ khác nên giữ được dáng người thon thả hơn.

Tuy rằng việc ăn uống rõ ràng có ảnh hưởng tới con người nhưng sự gia tăng trọng lượng sẽ không đồng đều, nhất là nếu không cùng bố mẹ hoặc dòng họ. Trong một cuộc thí nghiệm người ta cho một số trẻ 1000 calori quá tiêu chuẩn cần thiết, trong 3 tháng liền thì thấy rằng các đứa trẻ tăng trọng rất khác nhau, từ 4.5kg - 13.3kg.

2. Nghiên cứu về số người có dáng dóc béo phì ở nhiều nước khác nhau, các nhà khoa học đã thống kê được có 70% người béo phì ở Thụy Điển là do di truyền, trong khi ở Canada, con số này chỉ 25%. Ở những xã hội có nhiều người ưa vận động (thể dục thể thao, lao động chân tay...) số người béo phì do ăn uống sẽ thấp hơn ở những nơi có nhiều người ít vận động.


Người ta còn nhận thấy rằng đa số người Nhật trên đất nước Nhật có dáng vóc thon thả, trong khi những người Nhật di cư sang Mỹ lại có dáng người cao, to không kém gì người Mỹ. Điều này chứng tỏ vai trò của môi trường, tập quán ăn uống của xã hội, có ảnh hưởng rõ nét tới trọng lượng con người.

Vậy, đối với vấn đề tăng trọng thì yếu tố di truyền hay yếu tố môi trường có vai trò chính?

Câu trả lời là: cả hai.

Hai yếu tố này hỗ trợ lẫn nhau. Những người có bố mẹ, họ hàng béo phì, bản thân lại ít vận động, ưa thích ăn uống, lại được sống trong một xã hội đầy đủ thừa thãi, trong một gia đình hay tổ chức các cuộc liên hoan, tiệc tùng, thì việc trở thành béo phì là điều chắc chắn.

Trong trường hợp có bố mẹ béo phì nhưng con cái lại ưa hoạt động, chịu khó tập luyện và kiềm chế được việc ăn uống, ăn kiêng theo chế độ của các bác sĩ có chuyên môn, thì rất có thể tránh được căn bệnh mà bố mẹ đã mắc.

Hiện nay, nhiều nhà khoa học đang tìm loại men kích thích việc ham ăn và loại gen làm người ta ưa vận động. Rõ ràng, hai loại gen này đều có ảnh hưởng tới sự tăng trọng của con người, nhưng lại có vai trò rất ngược nhau.

Thuốc giảm cân